Sự lựa chọn của đội trưởng Mỹ có quan trọng không? Gần 40 năm lịch sử nói CÓ

Ryder Cup là một giải đấu lớn giữa các đội đến từ Châu Âu và Hoa Kỳ. Trước mỗi giải đấu đội trưởng của mỗi đội sẽ quyết định chọn thêm thành viên tham gia giải đấu mà không cần dựa vào số điểm ryder cup.

Và mới đây sự hồi hộp đã kết thúc đội trưởng đội tuyển Mỹ Jim Furyk đã đưa ra lựa chọn ba trong số bốn lựa chọn của mình. Cùng với đó, Thomas Bjorn cũng sẽ sớm đưa ra danh sách Ryder Cup châu Âu của mình. Nó giống như một truyền thống thời gian, nhưng trong năm Ryder Cup nghệ thuật lựa chọn của thuyền trưởng vẫn còn tương đối mới.

Ryder Cup năm 2016

Ryder Cup bắt đầu vào năm 1927, nhưng không có đội trưởng nào tự ý điều chỉnh danh sách của mình cho đến năm 1979 khi đội Anh và Ireland được mở rộng bao gồm lục địa châu Âu hai lựa chọn đã được thêm vào để làm cho giải đấu cạnh tranh hơn.

Mỹ lần đầu tiên bổ sung thành viên của đội tuyển của đội trưởng vào năm 1989. Dưới đây là sự lựa chọn của đội trưởng trong những năm qua, với một GRADE cho các lựa chọn tương ứng của mỗi đội.

1979

Hoa Kỳ 17 – Châu Âu 11

Châu Âu – Đội trưởng John Jacobs

Peter Oosterhuis (2-2)

Des Smyth (0-2)

GRADE: C

1981

Hoa Kỳ 18 ½ – Châu Âu 9 ½

Châu Âu – đội trưởng John Jacobs

Mark James (2-3)

Peter Oosterhuis (0-3)

GRADE: C-

1983

Hoa Kỳ 14 ½ – Châu Âu 13 ½

Không có lựa chọn của đội trưởng

GRADE: Không áp dụng

1985

Châu Âu 16 ½ – Hoa Kỳ 11 ½

Châu Âu – đội trưởng Tony Jacklin

Jose Rivero (1-1)

Ken Brown (1-2)

Nick Faldo (0-2)

GRADE: C

1987

Châu Âu 15 – Hoa Kỳ 13

Châu Âu – Đội trưởng Tony Jacklin

Sandy Lyle (3-1)

Jose Maria Olazabal (3-2)

Ken Brown (0-2)

GRADE: A-

Đội tuyển Ryder Cup Châu Âu năm 1989 kỷ niệm sau trận đấu 14-14.

1989

Châu Âu 14 – Hoa Kỳ 14

Châu Âu – Đội trưởng Tony Jacklin

Howard Clark (2-2)

Christy O’Connor Jr. (1-1)

Bernhard Langer (0-3)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Ray Floyd

Lanny Wadkins (2-2)

Tom Watson (1-1-1)

Đây là lần đầu tiên Mỹ bổ sung hai lựa chọn của đội trưởng.

EUROPE GRADE: B+

U.S. GRADE: B

1991

Hoa Kỳ 14 ½ – Châu Âu 13 ½

Châu Âu – Đội trưởng Bernard Gallacher

Jose Maria Olazabal (3-1-1)

Mark James (2-3)

Nick Faldo (1-3)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Dave Stockton

Ray Floyd (2-2)

Chip Beck (1-2)

Đây là Cúp sử thi được biết đến với tên gọi “War by the Shore”.

EUROPE GRADE: B-

U.S. GRADE: B+

1993

Hoa Kỳ 15 – Châu Âu 13

Châu Âu – Đội trưởng Bernard Gallacher

Seve Ballesteros (2-2)

Jose Maria Olazabal (2-3)

Joakim Haeggman (1-1)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Tom Watson

Ray Floyd (3-1)

Lanny Wadkins (2-1-1)

EUROPE GRADE: B+

U.S. GRADE: A

1995

Châu Âu 14 ½ – Hoa Kỳ 13

Châu Âu – Đội trưởng Bernard Gallacher

Nick Faldo (2-2)

Ian Woosnam (1-1-1)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Lanny Wadkins

Fred Couples (2-1-1)

Curtis Strange (0-3)

EUROPE GRADE: B-

U.S. GRADE: D-

1997

Châu Âu 14 ½ – Hoa Kỳ 13

Châu Âu – Đội trưởng Seve Ballesteros

Jesper Parnevik (1-1-2)

Nick Faldo (2-3)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Tom Kite

Lee Janzen (2-1)

Fred Couples (2-2)

EUROPE GRADE: B-

U.S. GRADE: B

1999

Hoa Kỳ 14 ½ – Châu Âu 13 ½

Châu Âu – Đội trưởng Mark James

Jesper Parnevik (3-1-1)

Andrew Coltart (0-1)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Ben Crenshaw

Tom Lehman (2-1)

Steve Pate (2-1)

EUROPE GRADE: B

U.S. GRADE: A

2002

Châu Âu 15 ½ – Hoa Kỳ 12

Châu Âu – Đội trưởng Sam Torrance

Sergio Garcia (3-2)

Jesper Parnevik (0-1-1)

Hoa Kỳ – Captain Curtis Strange

Scott Verplank (2-1)

Paul Azinger (0-1-1)

Ở tuổi 22 và chơi trong Cúp thứ hai của mình, Garcia đã trở thành một ngôi sao châu Âu và là nhân vật phản diện của Mỹ – ghi được chiến thắng lớn nhất từ ​​trước tới nay.

EUROPE GRADE: A-

U.S. GRADE: C

2004

Châu Âu 18 ½ – Hoa Kỳ 9 ½

Châu Âu – Đội trưởng Bernhard Langer

Colin Montgomerie (3-1)

Luke Donald (2-1-1)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Hal Sutton

Stewart Cink (1-2-1)

Jay Haas (1-2-1)

EUROPE GRADE: A

U.S. GRADE: D

2006

Châu Âu 18 ½ – Hoa Kỳ 9 ½

Châu Âu – Đội trưởng Ian Woosnam

Darren Clarke (3-0)

Lee Westwood (3-0-2)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Tom Lehman

Scott Verplank (2-0)

Stewart Cink (1-1-3)

EUROPE GRADE: A+

U.S. GRADE: B+

2008

Hoa Kỳ 16 ½ – Châu Âu 11 ½

Châu Âu – Đội trưởng Nick Faldo

Ian Poulter (4-1)

Paul Casey (0-1-2)

Hoa Kỳ – Paul Azinger

Chad Campbell (2-1)

JB Holmes (2-0-1)

Hunter Mahan (2-0-3)

Steve Stricker (0-2-1)

EUROPE GRADE: A-

U.S. GRADE: A

2010

Châu Âu 14 ½ – Hoa Kỳ 13

Châu Âu – Đội trưởng Colin Montgomerie

Luke Donald (3-1)

Padraig Harrington (2-2)

Edoardo Molinari (0-1-2)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Corey Pavin

Stewart Cink (1-0-3)

Rickie Fowler (0-1-2)

Zach Johnson (2-1)

Tiger Woods (3-1)

EUROPE GRADE: B+

U.S. GRADE: A

2012

Châu Âu 14 ½ – Hoa Kỳ 13

Châu Âu – Đội trưởng Jose Maria Olazabal

Nicolas Colsaerts (1-3)

Ian Poulter (4-0)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Davis Love III

Jim Furyk (1-2)

Dustin Johnson (3-0)

Brandt Snedeker (1-2)

Steve Stricker (0-4)

EUROPE GRADE: A

U.S. GRADE: B-

Ryder Cup 2014

2014

Châu Âu 16 ½ – Hoa Kỳ 11 ½

Châu Âu – Đội trưởng Paul McGinley

Stephen Gallacher (0-2)

Ian Poulter (0-1-2)

Lee Westwood (2-2)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Tom Watson

Keegan Bradley (1-2)

Hunter Mahan (1-2-1)

Webb Simpson (0-1-1)

EUROPE GRADE: C

U.S. GRADE: D

2016

Hoa Kỳ 17 – Châu Âu 11

Châu Âu – Đội trưởng Darren Clarke

Martin Kaymer (1-3)

Thomas Pieters (4-1)

Lee Westwood (0-3)

Hoa Kỳ – Đội trưởng Davis Love III

Rickie Fowler (2-1)

JB Holmes (1-2)

Matt Kuchar (2-2)

Ryan Moore (2-1)

EUROPE GRADE: C+

U.S. GRADE: A-

2018

Châu Âu – Đội trưởng Thomas Bjorn

Chưa công bố danh sách

Hoa Kỳ – Đội trưởng Jim Furyk

Bryson DeChambeau

Phil Mickelson

Tiger Woods

Như vậy lựa chọn của đội trưởng là cực kỳ quan trọng. Nếu một đội trưởng có thể tận dụng hết mọi ưu điểm của cầu thủ trong đội mình thì sẽ tạo nên sự đột phá. Hi vọng Jim Furyk và Thomas Bjorn sẽ làm được điều đó để trận đấu năm nay là trận đấu hay nhất lịch sử Ryder Cup.

Được đăng bởi: Fun88so

Rate this post

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *